10 học thuyết điên rồ từng được chấp nhận trong lịch sử loài người

Không có giới hạn nào cho những học thuyết khoa học. Có nhiều thứ đã được chứng minh và cũng có những thứ bị bác bỏ. Đó là lí do khi lật lại lịch sử, chúng ta phát hiện ra vô số những giả thuyết khoa học điên rồ từng được chấp nhận như những chân lí.

Điển hình, người ta từng tin rằng những đặc điểm từ người tình cũ của người phụ nữ có thể truyền sang cho con của cô ấy với người đàn ông khác – một điều không thể vô lí hơn! Và trong rất nhiều luận điểm tương tự, dưới đây là 10 học thuyết từng được chấp nhận trong lịch sử.

10. Ấn tượng từ mẹ

Cho đến đầu thế kỷ 20, mọi người tin rằng những gì một phụ nữ mang thai trải qua có thể làm thay đổi thai nhi. Điều này được gọi là ấn tượng mẹ. Người ta người cho rằng ấn tượng của mẹ có thể được gây ra bởi những gì người mẹ nghe thấy. Chẳng hạn, một người phụ nữ có thể sinh ra một đứa trẻ bị điếc nếu cô ấy nghe thấy một âm thanh lớn trong khi mang thai.

Nó cũng có thể được gây ra bởi những gì người mẹ nhìn thấy. Một phụ nữ mang thai có thể sinh ra một đứa trẻ mù nếu nhìn thấy một người mù. Các bác sĩ khuyên phụ nữ mang thai nên đến những khu vực dễ chịu như phòng trưng bày nghệ thuật và các buổi hòa nhạc để tránh việc sinh ra những đứa trẻ dị dạng.

Năm 1726, một cô gái phục vụ tên Mary Toft đã lợi dụng niềm tin vào “ấn tượng của người mẹ” khi cô lừa các bác sĩ tin rằng cô đã sinh ra thỏ. Các bác sĩ kết luận rằng những đứa trẻ của cô biến thành thỏ vì cô ăn thỏ, mơ thấy thỏ và thích đuổi thỏ quanh vườn (một câu chuyện nghe thật viễn vông và khó tin). Joseph Merrick (nổi tiếng được gọi là Người voi) được cho là nạn nhân của ấn tượng người mẹ. Mọi người nghĩ rằng anh ta bị biến dạng vì mẹ anh ta đã bị hoảng sợ bởi một con voi khi mang thai. [nguồn] Ngày nay, chúng ta biết Merrick bị mắc chứng u xơ thần kinh hoặc hội chứng Proteus.

9.Thuyết tiên thành (Sự hình thành từ trước)

Vào khoảng thế kỷ 17 và 18, các bác sĩ tin rằng tinh trùng hoặc trứng của con người chứa một con người nhỏ bé phát triển trong bụng mẹ. Niềm tin này được gọi là sự hình thành trước, và được áp dụng ngay cả đối với động vật và côn trùng. Các nhà khoa học thậm chí tuyên bố đã tìm thấy những sinh vật có cánh nhỏ trong phôi gà. Thuyết tiên thành này đã bị từ chối sau khi phát triển kính hiển vi mạnh hơn. Các nhà khoa học quan sát trứng của người và động vật, tinh trùng và phôi và phát hiện ra rằng chúng không chứa các sinh vật thu nhỏ. Ngày nay, Thuyết tiên thành đã được thay thế bởi thuyết biểu sinh.

8.Thuyết tự sinh

Thuyết tự sinh là giả thuyết cho rằng các sinh vật sống được tạo ra từ những thứ không phải thực thể sống. Ví dụ, người ta tin rằng chuột sinh ra từ thực phẩm được cất trữ và giòi đến từ thịt hư. Học thuyết này xuất hiện lần đầu tiên trong thời đại La Mã và là kết quả của sự quan sát.

Mọi người nhận thấy rằng giòi luôn xuất hiện trên thịt hư hỏng và những con chuột xuất hiện một cách bí ẩn trong bánh mì và phô mai được phủ trong quần áo cũ và giữ trong khu vực tối [nguồn]. Vào thế kỉ 17, một số người thậm chí đã cho rằng chuột có thể được tạo ra bằng cách bọc trấu lúa mì trong một miếng vải ướt đẫm mồ hôi và để nó trong một cái lọ không che trong 21 ngày.

Trong nhiều thế kỷ, một số nhà khoa học đã phản bác cơ chế tự phát sinh này, nhưng không có ai đưa ra bất kỳ thí nghiệm xác đáng nào. Đôi khi, những người ủng hộ thuyết tự sinh thậm chí còn làm sai lệch các thí nghiệm để củng cố giả thuyết của họ. Nhưng cuối cùng sự thật đã được Louis Pasteur làm sáng tỏ vào năm 1859.

7.Di truyền ảnh hưởng

Di truyền ảnh hưởng là học thuyết cho rằng những đặc điểm từ bạn tình cũ một người phụ nữ có thể được chuyển sang một đứa trẻ mà cô có với một người đàn ông khác. Nó được đề xuất bởi nhà khoa học và triết gia nổi tiếng người Hy Lạp, Aristotle.

Dù ngày nay đã bị bác bỏ, thuyết di truyền ảnh hưởng rất được tin tưởng vào thời điểm đó. Đây là lý do tại sao các anh hùng Hy Lạp thường có hai người cha là một là người và một là vị thần nào đó. Đó cũng là lý do những người kế nhiệm ngôi vua ở Anh không được phép kết hôn với những người phụ nữ đã kết hôn trước đó. Một sự cố tai tiếng đã xảy ra vào thế kỷ 14 khi chế độ quân chủ Anh cố gắng ngăn chặn cuộc hôn nhân giữa vị vua tương lai Hoàng tử Edward và Joan of Kent, một người từng ly dị. (Edward cuối cùng đã chết trước cha mình và không bao giờ được làm vua.)

Di truyền ảnh hưởng đã bị bác bỏ vào thế kỷ 19, khi người ta xác định được rằng các đặc điểm của con cái đươc quy định bởi hệ gen của chính chúng. Điều thú vị là vào năm 2014, các nhà nghiên cứu tại Đại học New South Wales đã phát hiện ra rằng di truyền xa thực sự có thật ở ruồi giấm. Con đực đầu tiên mà con cái cặp cùng sẽ quy định kích thước lứa con của con cái, ngay cả sau khi nó giao phối với những con khác [nguồn].

6.Sâu răng

Cách đây hàng ngàn năm, các nhà khoa học đã tin rằng đau răng là do sự hiện diện của một con sâu bên trong răng và gọi đó là sâu răng. Lần đầu tiên sâu răng được đề cập là khoảng 5000 năm trước Công nguyên.

Các nhà khoa học đã không nhận ra đó là do vi khuẩn ăn vào răng cho đến tận thế kỷ 18, khi giả thuyết những con sâu răng bị bác bỏ. Trước đó, họ tin rằng có những con sâu răng nấp ở chân răng và gây đau răng khi nó di chuyển. Cơn đau dừng lại khi con sâu nghỉ ngơi.

Lý thuyết được củng cố bởi thực tế là dây thần kinh ở phần thấp nhất của răng cũng giống như một con sâu. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã không thống nhất về việc con sâu trông như thế nào. Các nhà khoa học Anh nghĩ nó trông giống như một con lươn. Các nhà khoa học Đức tin nó giống như một con giòi. Một số nhà khoa học đã không chấp nhận việc sự tồn tại của sâu răng bị bác bỏ. Họ giữ niềm tin rằng những con sâu răng là nguyên nhân đau răng cho đến những năm 1900 [nguồn].

5.Thuyết Khí độc (Miasma)

Các bác sĩ thời Trung cổ tin rằng một số khí nguy hiểm trong bầu không khí, (được gọi là khí độc), gây ra các bệnh. Niềm tin khí độc tồn tại lan rộng đến nỗi bệnh sốt rét được đặt theo tên của nó. Sốt rét được hình thành từ các từ tiếng Ý “mala” (tiếng xấu) và “aria” (không khí). Rõ ràng, mọi người tin rằng bệnh sốt rét là do khí độc gây ra và bệnh dịch hạch cũng tương tự.

Các bác sĩ điều trị cho nạn nhân trong Đại dịch hạch Luân Đôn thậm chí còn cắm hoa vào mặt nạ để bảo vệ bản thân khỏi không khí độc hại. Dù điều này không bảo vệ họ khỏi bệnh dịch, nỗi sợ hãi với khí độc có những mặt tích cực của nó. Các bác sĩ yêu cầu môi trường vệ sinh hơn vì tin rằng hơi nguy hiểm đã được giải phóng do sự phân hủy các chất và sinh vật.

Florence Nightingale, mẹ đẻ của ngành điều dưỡng hiện đại, cũng luôn đảm bảo rằng các bệnh viện sạch sẽ, nhiều không khí trong lành.

Ở Anh, mọi người nghiễm nhiên bảo vệ bản thân khỏi bệnh tật khi họ dọn sạch đường phố mất vệ sinh mà họ nghi ngờ tạo ra khí độc. Có lẽ đúng là không sạch sẽ thực sự gây ra bệnh tật, nhưng không phải theo cách họ nghĩ. Việc thiếu kiến ​​thức này cũng là một nhược điểm lớn đối với y học.

Các bác sĩ thường để tay không rửa tay khi đến bệnh nhân và vô tình truyền bệnh. Thuyết Miasma dần không còn được tin tưởng vào những năm 1800, khi các nhà khoa học chỉ ra rằng bệnh tật là do các vi sinh vật như vi khuẩn. Những giả thuyết về vi trùng đó vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

4.Thuyết chất lỏng calo

Ngày nay, chúng ta biết nhiệt là một dạng năng lượng. Giống như các dạng năng lượng khác, nó không thể được tạo ra cũng như không bị mất đi mà được chuyển từ dạng này sang dạng khác. Nhiều người đã không biết điều này vào những thế kỉ trước. Năm 1787, nhà hóa học người Pháp Antoine Lavoisier thậm chí còn đề xuất rằng nhiệt là một chất lỏng mà ông gọi là chất lỏng calo.

Lavoisier tuyên bố rằng nhiệt được truyền từ cơ thể nóng hơn sang cơ thể mát hơn thông qua chất lỏng calo. Cơ thể mát hơn nóng lên vì nó chứa nhiều chất lỏng calo hơn. Lý thuyết về chất lỏng calo là giải thích cho một số hiện tượng liên quan đến nhiệt tại thời điểm đó.

Chẳng hạn, các nhà khoa học tuyên bố rằng sự gia tăng nhiệt độ quan sát được trong quá trình nén là kết quả của chất lỏng calo bị ép vào một không gian nhỏ hơn. Về bản chất, nhiều chất lỏng calo có nghĩa là nhiều nhiệt hơn. Tuy nhiên giả thuyết đã bị bác bỏ vài năm sau khi nó được đề xuất [nguồn].

3.Thuyết Trái đất rỗng

Lý thuyết Trái đất rỗng có một chút khác biệt so với các lý thuyết khác mà chúng ta đã đề cập ở đây. Ban đầu, nó không được chấp nhận bởi đa số các nhà khoa học. Tuy một số người vẫn tin tưởng, không có bằng chứng nào về tính xác thực của nó và mọi thực tế chúng ta biết về Trái đất đều chứng minh điều đó là sai.

“Trái đất rỗng” được đề xuất vào năm 1692 bởi Edmund Halley. Halley đề xuất Trái đất rỗng sau khi anh ta phát hiện ra rằng từ trường của hành tinh của chúng ta thường thay đổi. Ông tin rằng điều này là có thể bởi vì Trái đất có nhiều hơn một từ trường. Halley cho rằng thế giới của chúng ta bao gồm bốn quả cầu. Trái đất như chúng ta thấy là quả cầu lớn nhất, nó ở bên ngoài, với ba quả cầu khác bên trong. Các quả cầu nhỏ và xa dần bên trong Trái đất. Điều này có nghĩa là quả cầu trong cùng là nhỏ nhất và ngoài cùng là lớn nhất. Một số nhà khoa học ủng hộ lý thuyết Halley, và một số thậm chí còn bổ sung bằng ý kiến ​​của họ. Leonhard Euler tuyên bố có một mặt trời trong lòng Trái đất đã cung cấp ánh sáng cho những người sống bên trong. John Leslie cũng cho rằng thực sự có hai mặt trời [nguồn].

2. Thuyết về thể dịch (Humoral)

Theo thuyết thể dịch, mỗi người có bốn thể dịch là máu, niêm dịch, mật đen và mật vàng. Mỗi loại thể dịch được liên kết với một trong bốn yếu tố: không khí, đất, nước và lửa cũng như một trong bốn mùa. Ở một mùa thì có một thể dịch đại điện, những mùa còn lại sẽ suy giảm. Ví dụ, máu được cho là rất dồi dào vào mùa xuân.

Điều này có thể nhanh chóng gây ra vấn đề, bởi vì cơ thể cần bốn loại thể dịch để cân bằng và hoạt động bình thường. Trước đây, các bệnh nhân sẽ được bác sĩ điều trị nếu phát hiện sự mất cần bằng trong 4 loại thể dịch. Tùy thuộc vào chẩn đoán, bệnh nhân được yêu cầu tập thể dục hoặc dùng một số loại thực phẩm và thuốc. Đôi khi, các bác sĩ đã sử dụng các pháp đồ cực đoan như sử dụng bàn ủi nóng để tạo vết phồng rộp trên da bệnh nhân hoặc buộc họ phải dùng thuốc nhuận tràng để làm sạch ruột. Trong nhiều trường hợp, họ thậm chí rút cạn dịch thể dư thừa. Thuyết về dịch thể đã bị bác bỏ vào những năm 1800 [nguồn].

1.Mô hình vũ trụ địa tâm

Mô hình địa tâm của vũ trụ là một trong những học thuyết lâu đời nhất trong thiên văn học. Đó là niềm tin rằng Trái đất là trung tâm của vũ trụ và mọi thiên thể, bao gồm cả Mặt trời, Mặt trăng và các hành tinh khác, đều xoay quanh thế giới của chúng ta.

Trên thực tế, điều này đúng với Mặt trăng nhưng không đúng với Mặt trời và các thiên thể khác ngoài kia. Lý thuyết này lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà triết học Hy Lạp cổ đại Anaximander vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Anaximander tuyên bố rằng Trái đất là một hình trụ và mọi thiên thể đều xoay quanh nó. Plato, Pythagoras và Aristotle sau đó đã xác nhận rằng Trái đất là một hình cầu nhưng vẫn cho rằng nó là trung tâm của vũ trụ.

Một số nhà thiên văn học đã phản đối mô hình địa tâm của vũ trụ trong nhiều năm, đặc biệt là khoảng giữa thế kỷ thứ 10 và thế kỷ thứ 12 nhưng không được chấp nhận. Điều này đã thay đổi vào thế kỷ 16 khi Nicolaus Copernicus tuyên bố rằng Trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ. Copernicus đã viết những phát hiện của mình trong cuốn sách của mình, De Revolutionibus orbium coelestium (Về cuộc cách mạng của các thiên cầu). Ông biết cuốn sách sẽ gây tranh cãi và chỉ gửi nó để xuất bản khi gần chết. Mô hình địa tâm của lý thuyết vũ trụ cuối cùng đã bị bác bỏ vào thế kỷ 17 [nguồn].

You may also like...

1 Response

  1. August 13, 2019

    […] cổ đại đã từng coi Trái Đất như một mặt phẳng, nhưng những người theo thuyết địa tâm thì tiến bộ hơn rất nhiều, dầu vậy họ vẫn chưa đạt đến một mô hình […]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *